Giao hàng tại: Hồ Chí Minh
Tải app An Khang - Freeship mọi đơn - Ưu đãi đến 200.000đ
1/0

Thông tin sản phẩm

Công dụng
Ðiều trị trầm cảm bao gồm trầm cảm kèm lo âu, ngăn ngừa giai đoạn trầm cảm tái phát
Thành phần chính
Venlafaxine Hydrochloride
Đối tượng sử dụng
Thuốc kê đơn - Sử dụng theo chỉ định của Bác sĩ
Thương hiệu
Torrent Pharma
Nhà sản xuất
TORRENT PHARMACEUTICALS LTD.

Hướng dẫn sử dụng

Mọi thông tin dưới đây đã được Dược sĩ biên soạn lại. Tuy nhiên, nội dung hoàn toàn giữ nguyên dựa trên tờ Hướng dẫn sử dụng, chỉ thay đổi về mặt hình thức.

1. Thành phần

Mỗi viên nang giải phóng kéo dài có chứa:

  • Hoạt chất: Venlafaxin hydroclorid Ph.Eur tương đương Venlafaxin 75 mg (dưới dạng hạt pellet giải phóng kéo dài).
  • Tá dược: Đường hạt (bao kín), Talc, Hydroxypropyl methylcellulose (E 15 LV), Colloidal silicon dioxide, Ethylcellulose (45 cps), Hydroxypropyl methylcellulose (6 cps) và nang gelatin cứng.

2. Công dụng (Chỉ định)

  • Điều trị bệnh trầm cảm.
  • Dự phòng tái phát trầm cảm.
  • Điều trị rối loạn lo âu xã hội (SAD).

3. Cách dùng - Liều dùng

- Cách dùng

  • Dùng theo đường uống.
  • Khuyến cáo nên dùng venlafaxin dạng giải phóng kéo dài cùng với thức ăn, trong cùng thời điểm mỗi ngày. Phải nuốt cả viên với chất lỏng và không phân chia, nghiền, nhai hay hòa tan.
  • Bệnh nhân điều trị bằng venlafaxin dạng giải phóng ngay lập tức có thể chuyển sang dùng venlafaxin dạng giải phóng kéo dài với liều tương đương gần nhất. Ví dụ, dạng giải phóng ngay lập tức là 37,5 mg hai lần mỗi ngày có thể chuyển sang dạng giải phóng kéo dài 75 mg một lần mỗi ngày. Điều chỉnh liều theo từng bệnh nhân là cần thiết.

- Liều dùng

  • Bệnh trầm cảm: Liều khởi đầu khuyến cáo là dạng giải phóng kéo dài 75 mg một lần mỗi ngày. Bệnh nhân không đáp ứng với liều khởi đầu 75 mg/ngày có thể tăng liều tối đa lên 375 mg/ngày. Tăng liều có thể tiến hành sau mỗi 2 tuần hoặc nhiều hơn. Nếu triệu chứng lâm sàng nghiêm trọng, tăng liều có thể tiến hành trong khoảng thời gian thường xuyên hơn, nhưng không được ít hơn 4 ngày. Do nguy cơ tác dụng phụ liên quan đến liều, tăng liều nên được tiến hành sau khi có đánh giá lâm sàng. Liều thấp nhất có hiệu quả nên được duy trì. Bệnh nhân nên được điều trị đủ thời gian, thường là vài tháng hoặc lâu hơn. Điều trị nên được tái đánh giá thường xuyên tùy vào từng trường hợp. Điều trị dài hạn có thể là cần thiết để phòng ngừa tái phát trầm cảm. Ở hầu hết các trường hợp, liều khuyến cáo cho phòng ngừa tái phát trầm cảm cũng giống như liều đang sử dụng trong giai đoạn hiện tại. Các thuốc chống trầm cảm nên được tiếp tục sử dụng ít nhất 6 tháng sau khi bệnh thuyên giảm.
  • Rối loạn lo âu xã hội: Liều khuyến cáo là dạng giải phóng kéo dài 75 mg một lần mỗi ngày. Không có bằng chứng cho thấy liều cao hơn có thêm lợi ích. Tuy nhiên, bệnh nhân không đáp ứng với liều 75 mg/ngày, có thể tăng liều tối đa lên đến 225 mg/ngày. Tăng liều có thể tiến hành sau khoảng 2 tuần hoặc lâu hơn. Do nguy cơ tác dụng phụ liên quan tới liều, tăng liều có thể tiến hành sau khi đánh giá lâm sàng. Liều thấp nhất có hiệu quả nên được duy trì. Bệnh nhân cần được điều trị đủ thời gian, thường là vài tháng hoặc lâu hơn. Điều trị nên được tái đánh giá thường xuyên dựa vào từng trường hợp.
  • Bệnh nhân lớn tuổi: Không cần điều chỉnh liều venlafaxin cho bệnh nhân dựa vào tuổi. Tuy nhiên, cần thận trọng khi điều trị cho bệnh nhân lớn tuổi (ví dụ do khả năng có suy thận, khả năng thay đổi độ nhạy và dẫn truyền thần kinh xảy ra do lão hóa). Liều thấp nhất có hiệu quả nên được dùng và bệnh nhân cần được giám sát chặt chẽ khi cần tăng liều.
  • Bệnh nhi: Venlafaxin không khuyến cáo sử dụng cho trẻ em và trẻ vị thành niên. Trong nghiên cứu lâm sàng có kiểm soát trên trẻ em và trẻ vị thành niên bị trầm cảm, không thể chứng minh hiệu quả và hỗ trợ khi sử dụng venlafaxin trên những bệnh nhân này. Hiệu quả và an toàn của venlafaxin cho các chỉ định khác trên trẻ em và trẻ vị thành niên dưới 18 tuổi chưa được thiết lập.
  • Bệnh nhân suy gan: Bệnh nhân suy gan nhẹ và trung bình, nhìn chung nên cân nhắc giảm 50% liều. Tuy nhiên, do có sự khác nhau về độ thanh thải trên từng bệnh nhân, cá nhân hóa liều lượng có thể là cần thiết. Có giới hạn dữ liệu trên bệnh nhân suy gan nặng. Cần thận trọng và giảm liều trên 50% nên được cân nhắc. Lợi ích nên được đánh giá so với nguy cơ khi điều trị trên nhóm bệnh nhân suy gan nặng.
  • Bệnh nhân suy thận: Mặc dù không cần điều chỉnh liều trên bệnh nhân có mức lọc cầu thận (GFR) trong khoảng 30-70 ml/phút, nhưng vẫn nên thận trọng. Bệnh nhân cần chạy thận nhân tạo và bệnh nhân suy thận nặng (GFR < 30 ml/phút), cần giảm liều tới 50%. Do sự khác nhau về độ thanh thải trên từng bệnh nhân, cá nhân hóa liều lượng là cần thiết.
  • Hội chứng cai nghiện quan sát thấy khi ngưng sử dụng venlafaxin: Nên tránh ngưng sử dụng thuốc đột ngột. Khi ngừng sử dụng venlafaxin, liều nên được giảm từ từ qua các giai đoạn ít nhất là 1 đến 2 tuần để giảm nguy cơ xảy ra hội chứng cai nghiện. Nếu triệu chứng không dung nạp xảy ra sau khi giảm liều hay sau khi ngưng điều trị, sau đó có thể xem xét lại liều đã kê trước đó. Sau đó, bác sĩ có thể tiếp tục giảm liều, nhưng với tốc độ chậm hơn.

- Quá liều

Triệu chứng 

Sau khi lưu hành trên thị trường, các trường hợp quá liều venlafaxin đã được báo cáo, chủ yếu là khi dùng kết hợp với rượu và/hoặc các thuốc khác. Các triệu chứng chính được báo cáo khi quá liều bao gồm: nhịp tim nhanh, thay đổi mức độ ý thức (từ buồn ngủ đến hôn mê), bệnh nấm, co giật và nôn. Các báo cáo khác bao gồm thay đổi điện tâm đồ (như khoảng QT kéo dài, block nhánh, QRS kéo dài), nhịp nhanh thất, nhịp tim chậm, hạ huyết áp, chóng mặt và tử vong. Các nghiên cứu hồi cứu được công bố cho thấy quá liều venlafaxin có thể liên quan đến tăng nguy cơ gây tử vong so với các thuốc chống trầm cảm SSRI, nhưng thấp hơn so với các thuốc chống trầm cảm ba vòng. Nghiên cứu dịch tễ học cũng chỉ ra rằng bệnh nhân điều trị bằng venlafaxin có yếu tố nguy cơ tự tử cao hơn so với SSRI. Mức độ tăng nguy cơ tử vong có thể là do độc tính khi quá liều venlafaxin; tuy nhiên, mối liên hệ với một số đặc điểm của bệnh nhân điều trị bằng venlafaxin thì chưa rõ ràng. Việc kê đơn venlafaxin nên được thực hiện với liều thấp nhất và kết hợp giám sát bệnh nhân chặt chẽ để tránh nguy cơ quá liều.

Xử trí 

Khuyến cáo thực hiện các biện pháp hỗ trợ và điều trị triệu chứng. Nhịp tim và dấu hiệu sinh tồn cần được theo dõi. Khi có nguy cơ hít sặc, không khuyến cáo gây nôn. Rửa dạ dày có thể được chỉ định ngay sau khi uống hoặc khi bệnh nhân có triệu chứng. Sử dụng than hoạt tính có thể giới hạn sự hấp thu thuốc. Các biện pháp như lợi tiểu, lọc máu, truyền máu dường như không có tác dụng. Hiện không có thuốc giải độc đặc hiệu cho venlafaxin.

4. Chống chỉ định

  • Mẫn cảm với dược chất hay bất kỳ thành phần nào của thuốc.
  • Chống chỉ định dùng đồng thời với các thuốc ức chế monoamin oxydase không hồi phục (MAOIs) do nguy cơ mắc hội chứng serotonin với triệu chứng như kích động, run và tăng thân nhiệt. Phải bắt đầu điều trị bằng venlafaxin ít nhất 14 ngày sau khi ngưng sử dụng thuốc MAOI không hồi phục.
  • Venlafaxin phải ngưng sử dụng sau ít nhất 7 ngày trước khi bắt đầu điều trị bằng MAOI không hồi phục.

5. Tác dụng phụ

Các tác dụng không mong muốn phổ biến nhất (>1/10) được báo cáo trong nghiên cứu lâm sàng bao gồm buồn nôn, khô miệng, đau đầu và đổ mồ hôi (bao gồm đổ mồ hôi ban đêm).

Những tác dụng phụ dưới đây được liệt kê theo hệ cơ quan và tần suất: Rất phổ biến (≥1/10), phổ biến (≥1/100 đến <1/10), ít gặp (≥1/1.000 đến <1/100), hiếm gặp (≥1/10.000 đến <1/1.000), không biết (không thể đánh giá dựa vào dữ liệu hiện tại).

Hệ cơ quanRất phổ biếnPhổ biếnÍt gặpHiếm gặpKhông biết
Rối loạn máu và hệ bạch huyết    Giảm tiểu cầu, rối loạn máu (bao gồm mất bạch cầu hạt, thiếu máu bất sản, giảm bạch cầu, giảm toàn thể huyết cầu)
Rối loạn hệ miễn dịch    Phản ứng phản vệ
Rối loạn nội tiết    Hội chứng tiết hormone chống bài niệu không thích hợp (SIADH)
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng Giảm thèm ăn  Hạ natri máu
Rối loạn tâm thần Trạng thái nhầm lẫn, mất nhân cách, mất hoạt năng, giảm ham muốn tình dục, bồn chồn, mất ngủ, giấc mơ bất thườngẢo giác, bạo lực, kích động, cực khoái bất thường (nữ), thờ ơ, hưng cảm nhẹ, nghiến răng khi ngủHưng cảmÝ nghĩ tự tử và hành vi tự tử*, mê sảng, gây sự**
Rối loạn thần kinhChóng mặt, đau đầu***Buồn ngủ, run, dị cảm, tăng trương lực cơChứng nằm, ngồi không yên/ bồn chồn, ngất, rung giật cơ, phối hợp bất thường, rối loạn thăng bằng, loạn vị giácCo giậtHội chứng thần kinh ác tính (NMS), hội chứng serotonergic, rối loạn ngoại tháp (bao gồm loạn trương lực cơ và loạn vận động), rối loạn vận động muộn
Rối loạn thị giác  Giảm thị lực (bao gồm nhìn mờ), giãn đồng tử, rối loạn điều tiết Tăng nhãn áp góc đóng
Rối loạn thính giác và mê cung  Ù tai Chóng mặt
Rối loạn tim mạch Đánh trống ngựcNhịp tim nhanh Rung tâm thất, nhịp nhanh thất (bao gồm cả xoắn đỉnh)
Rối loạn mạch máu Tăng huyết áp, giãn mạch (chủ yếu tư thế đứng)Hạ huyết áp tư thế đứng Hạ huyết áp, xuất huyết (chảy máu màng nhầy)
Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất NgápKhó thở Tăng bạch cầu ái toan phổi
Rối loạn dạ dày ruộtBuồn nôn, khô miệngNôn, tiêu chảy, táo bónXuất huyết tiêu hóa Viêm tụy
Rối loạn gan mật    Viêm gan, xét nghiệm chức năng gan bất thường
Rối loạn da và mô dưới da Chứng tăng tiết mồ hôi (bao gồm mồ hôi ban đêm)Phù mạch, phản ứng nhạy cảm ánh sáng, vết bầm máu, phát ban, rụng tóc Hội chứng Stevens-Johnson, hồng ban đa dạng, hoại tử biểu bì nhiễm độc, ngứa, mề đay
Rối loạn cơ xương khớp và mô liên kết    Tiêu cơ vân
Rối loạn thận và tiết niệu  Khó tiểu (chủ yếu là tiểu ngập ngừng), đái rắtBí tiểuTiểu không tự chủ
Rối loạn hệ sinh sản và tuyến vú  Rối loạn kinh nguyệt kèm theo tăng chảy máu hoặc chảy máu bất thường (như rong kinh, xuất huyết tử cung), rối loạn xuất tinh, rối loạn cương dương  
Rối loạn chung và vị trí dùng thuốc Suy nhược, mệt mỏi, ớn lạnh, cholesterol máu tăng   
Xét nghiệm    Điện tâm đồ QT kéo dài, tăng thời gian chảy máu, prolactin máu tăng

* Các trường hợp ý nghĩ tự tử và hành vi tự tử đã được báo cáo khi dùng venlafaxin hoặc ngay sau khi ngừng thuốc.

** Xem mục Cảnh báo và Thận trọng.

*** Trong thử nghiệm lâm sàng gộp, tỷ lệ đau đầu khi dùng venlafaxin và giả dược là như nhau.

Ngưng sử dụng venlafaxin (đặc biệt ngưng đột ngột) thường gây hội chứng cai nghiện. Các phản ứng được báo cáo nhiều nhất bao gồm: chóng mặt, rối loạn cảm giác (bao gồm dị cảm), rối loạn giấc ngủ (bao gồm mất ngủ và giấc mơ dữ dội), kích động hoặc lo lắng, buồn nôn và/hoặc nôn, run, đau đầu và hội chứng cúm. Nhìn chung, những phản ứng này thường nhẹ đến trung bình và có thể tự giới hạn, tuy nhiên, ở một số bệnh nhân có thể nặng và/hoặc kéo dài. Do đó, khi cần ngưng điều trị bằng venlafaxin, cần ngưng từ từ bằng cách giảm dần liều.

Bệnh nhi: Nhìn chung, tác dụng phụ của venlafaxin (trong nghiên cứu có đối chứng giả dược) trên trẻ em và trẻ vị thành niên (tuổi từ 6 đến 17) tương tự như trên người lớn. Cũng như ở người lớn, giảm thèm ăn, giảm cân, tăng huyết áp và tăng cholesterol huyết thanh đã được quan sát thấy. Trong thử nghiệm lâm sàng trên trẻ em, ý nghĩ tự tử đã được quan sát thấy. Cũng có báo cáo về sự thù địch và, đặc biệt là, trầm cảm và tự gây hại. Ngoài ra, những tác dụng phụ sau đây đã được quan sát thấy trên bệnh nhi: đau bụng, kích động, khó tiêu, vết bầm máu, chảy máu cam và đau cơ.

Thông báo ngay cho bác sĩ hoặc dược sĩ những phản ứng có hại gặp phải khi sử dụng thuốc.

6. Lưu ý

- Thận trọng khi sử dụng

  • Ý nghĩ tự tử và lâm sàng xấu đi: Trầm cảm có liên quan đến tăng nguy cơ có ý nghĩ tự tử, tự làm hại bản thân và tự tử (các hành vi liên quan đến tự tử). Nguy cơ này vẫn tồn tại đến khi bệnh thuyên giảm đáng kể. Sự cải thiện bệnh có thể không xảy ra trong vài tuần đầu điều trị hay lâu hơn, bệnh nhân nên được giám sát chặt đến khi bệnh cải thiện. Kinh nghiệm lâm sàng nhìn chung cho thấy nguy cơ tự tử có thể tăng lên trong giai đoạn đầu của phục hồi. Các tình trạng tâm thần khác mà venlafaxin được kê đơn cũng có thể liên quan đến tăng nguy cơ của hành vi liên quan đến tự tử. Thêm vào đó, những trường hợp có thể là mắc đồng thời với bệnh trầm cảm. Do đó, cần thận trọng tương tự như với bệnh nhân trầm cảm khi điều trị cho bệnh nhân mắc các rối loạn tâm thần khác. Bệnh nhân có tiền sử có hành vi liên quan đến tự tử, hoặc có biểu hiện ý tưởng tự tử trước khi bắt đầu điều trị, được biết là có nguy cơ có ý nghĩ tự tử cao hơn hoặc cố gắng tự tử, và nên được giám sát chặt chẽ trong khi điều trị. Một phân tích tổng hợp các nghiên cứu lâm sàng có đối chứng các thuốc chống trầm cảm trên người trưởng thành với rối loạn tâm thần cho thấy nguy cơ hành vi tự tử tăng khi dùng các thuốc chống trầm cảm so với nhóm bệnh nhân ít hơn 25 tuổi dùng giả dược. Giám sát chặt các bệnh nhân và đặc biệt những bệnh nhân có nguy cơ cao, nên đi kèm với điều trị bằng thuốc, đặc biệt trong giai đoạn đầu điều trị và sau khi thay đổi liều. Những bệnh nhân (và người chăm sóc bệnh nhân) nên được cảnh báo về sự cần thiết giám sát các dấu hiệu lâm sàng xấu đi, hành vi tự tử hay ý nghĩ tự tử và những thay đổi bất thường trong hành vi, và tìm tư vấn y tế ngay khi có các triệu chứng này.
  • Sử dụng cho trẻ em và trẻ vị thành niên dưới 18 tuổi: Không nên dùng thuốc cho trẻ em và trẻ vị thành niên dưới 18 tuổi. Các hành vi liên quan đến tự tử (cố gắng tự tử và ý nghĩ tự tử) và sự thù địch (chủ yếu là gây hấn, hành vi chống đối và nổi giận) được quan sát thường xuyên hơn trên thử nghiệm lâm sàng giữa trẻ em và trẻ vị thành niên điều trị bằng các thuốc chống trầm cảm so với nhóm điều trị bằng giả dược. Nếu dựa vào nhu cầu lâm sàng, quyết định điều trị vẫn được đưa ra, bệnh nhân nên được giám sát chặt chẽ về sự xuất hiện triệu chứng tự tử. Thêm vào đó, dữ liệu an toàn dài hạn trên trẻ em và trẻ vị thành niên liên quan đến tăng trưởng, trưởng thành và phát triển nhận thức là còn thiếu.
  • Hội chứng serotonin: Cũng như các tác nhân serotonergic khác, sự phát triển hội chứng serotonin có khả năng đe dọa đến tính mạng hoặc hội chứng thần kinh ác tính (NMS) có thể xảy ra khi điều trị bằng venlafaxin, đặc biệt khi sử dụng đồng thời với các tác nhân serotonergic khác (bao gồm SSRIs, SNRIs, triptan, lithium, sibutramine, St. John's Wort (hypericum perforatum), fentanyl và các chất tương tự nó, tramadol, dextromethorphan, tapentadol, pethidine, methadone và pentazocine), với các thuốc làm giảm chuyển hóa serotonin như ức chế MAO (ví dụ xanh methylene), với tiền chất serotonin (như bổ sung tryptophan) hay với thuốc chống loạn thần hoặc các thuốc đối kháng dopamine khác. Triệu chứng hội chứng serotonin có thể bao gồm thay đổi trạng thái tâm thần (như kích động, ảo giác, hôn mê), mất ổn định tự chủ (ví dụ nhịp tim nhanh, huyết áp không ổn định, tăng thân nhiệt), triệu chứng rối loạn thần kinh cơ (ví dụ tăng phản xạ), rối loạn tiêu hóa (nôn, tiêu chảy). Hội chứng serotonin hầu hết trong các dạng nghiêm trọng có thể giống với NMS, bao gồm tăng thân nhiệt, cứng cơ, mất ổn định tự chủ với sự biến động nhanh chóng của các dấu hiệu quan trọng và thay đổi trạng thái tâm thần. Nếu điều trị đồng thời với venlafaxin và các thuốc khác có thể ảnh hưởng đến hệ thống dẫn truyền thần kinh serotonergic và/hoặc dopaminergic được đảm bảo lâm sàng, nên quan sát thận trọng bệnh nhân, đặc biệt khi bắt đầu điều trị và tăng liều. Không khuyến cáo sử dụng đồng thời venlafaxin với tiền chất serotonin (như bổ sung tryptophan).
  • Bệnh tăng nhãn áp góc hẹp: Giãn đồng tử có thể xảy ra liên quan đến venlafaxin. Khuyến cáo bệnh nhân bị tăng nhãn áp hay có nguy cơ tăng nhãn áp góc hẹp cấp tính (bệnh tăng nhãn áp góc đóng) cần được giám sát chặt. Giãn đồng tử có thể xảy ra liên quan đến venlafaxin. Khuyến cáo bệnh nhân bị tăng nhãn áp hay có nguy cơ tăng nhãn áp góc hẹp cấp tính (bệnh tăng nhãn áp góc đóng) cần được giám sát chặt.
  • Huyết áp: Tăng huyết áp liên quan đến liều được báo cáo phổ biến với venlafaxin. Trong một số trường hợp, huyết áp tăng nghiêm trọng cần điều trị ngay lập tức đã được báo cáo sau khi thuốc lưu hành trên thị trường. Tất cả bệnh nhân nên được kiểm tra cẩn thận huyết áp cao và tiền sử tăng huyết áp trước khi bắt đầu điều trị. Huyết áp nên được kiểm tra lại định kỳ, sau khi bắt đầu điều trị và sau khi tăng liều. Cần thận trọng ở bệnh nhân tiềm ẩn có thể bị tổn hại do tăng huyết áp, ví dụ những người bị suy yếu chức năng tim.
  • Nhịp tim: Tăng nhịp tim có thể xảy ra, đặc biệt là ở liều cao. Cần thận trọng trên bệnh nhân có tiềm ẩn có thể bị tổn hại do tăng nhịp tim.
  • Bệnh tim và nguy cơ loạn nhịp tim: Venlafaxin chưa được đánh giá ở bệnh nhân có tiền sử nhồi máu cơ tim và bệnh tim không ổn định. Do đó, nên dùng thận trọng trên nhóm bệnh nhân này. Sau khi lưu hành, các trường hợp QTc kéo dài, xoắn đỉnh (TdP), nhịp nhanh thất, rối loạn nhịp tim gây tử vong đã được báo cáo khi sử dụng venlafaxin, đặc biệt khi quá liều hay bệnh nhân có các nguy cơ khác gây QTc kéo dài/TdP. Cân bằng giữa nguy cơ và lợi ích nên được cân nhắc trước khi kê đơn venlafaxin ở bệnh nhân có nguy cơ cao rối loạn tim nghiêm trọng hay QTc kéo dài.
  • Co giật: Co giật có thể xảy ra khi điều trị bằng venlafaxin. Cũng như các thuốc chống trầm cảm khác, venlafaxin nên được dùng thận trọng trên bệnh nhân có tiền sử co giật, và bệnh nhân có liên quan nên được theo dõi chặt chẽ. Nên ngưng điều trị trên bệnh nhân phát triển co giật.
  • Hạ natri máu: Các trường hợp hạ natri máu và/hoặc hội chứng tiết hormon chống bài niệu không thích hợp (SIADH) có thể xảy ra với venlafaxin. Điều này thường được báo cáo ở những bệnh nhân bị suy giảm thể tích hoặc mất nước. Bệnh nhân lớn tuổi, bệnh nhân dùng thuốc lợi tiểu và bệnh nhân bị suy giảm thể tích có thể có nguy cơ cao hơn.
  • Chảy máu bất thường: Các thuốc ức chế hấp thu serotonin có thể gây giảm chức năng tiểu cầu. Hiện tượng chảy máu liên quan đến SSRI và SNRI từ vết bầm máu, tụ máu, chảy máu cam và đốm xuất huyết đến xuất huyết dạ dày và đe dọa tính mạng. Nguy cơ xuất huyết có thể tăng ở bệnh nhân dùng venlafaxin. Cũng như các thuốc ức chế tái hấp thu serotonin, venlafaxin nên được dùng thận trọng trên bệnh nhân dễ bị chảy máu, bao gồm bệnh nhân dùng thuốc chống đông máu và ức chế tiểu cầu.
  • Cholesterol huyết thanh: Tăng cholesterol huyết thanh được báo cáo trên 5,3% bệnh nhân điều trị bằng venlafaxin và 0,0% trên bệnh nhân dùng giả dược trong ít nhất 3 tháng. Đo nồng độ cholesterol huyết thanh nên được cân nhắc trong quá trình điều trị lâu dài.
  • Dùng đồng thời với thuốc giảm cân: An toàn và hiệu quả của venlafaxin trong dùng đồng thời với thuốc giảm cân, bao gồm phetermine chưa được thiết lập. Không khuyến cáo dùng đồng thời venlafaxin và thuốc giảm cân. Venlafaxin không được chỉ định cho giảm cân đơn độc hay kết hợp với các thuốc khác.
  • Hưng cảm/hưng cảm nhẹ: Hưng cảm/hưng cảm nhẹ có thể xảy ra trên một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân rối loạn tâm trạng đã dùng thuốc chống trầm cảm, bao gồm venlafaxin. Cũng như các thuốc chống trầm cảm khác, venlafaxin nên được dùng thận trọng trên bệnh nhân có tiền sử hay tiền sử gia đình bị rối loạn lưỡng cực.
  • Kích động: Kích động có thể xảy ra trên một lượng nhỏ bệnh nhân dùng thuốc chống trầm cảm, bao gồm venlafaxin. Điều này đã được báo cáo khi bắt đầu, thay đổi liều và ngưng sử dụng. Cũng như các thuốc chống trầm cảm khác, venlafaxin nên được dùng cẩn thận trên bệnh nhân có tiền sử kích động.
  • Ngưng sử dụng: Hội chứng cai nghiện, khi ngưng điều trị là phổ biến, đặc biệt khi ngưng điều trị đột ngột. Trong nghiên cứu lâm sàng, tác dụng phụ xảy ra khi ngưng điều trị khoảng 31% bệnh nhân dùng venlafaxin và 17% bệnh nhân dùng giả dược. Nguy cơ hội chứng cai nghiện xảy ra có thể phụ thuộc vào một số yếu tố nguy cơ, bao gồm thời gian dùng, liều dùng và tỉ lệ giảm liều. Chóng mặt, rối loạn cảm giác (bao gồm dị cảm), rối loạn giấc ngủ (bao gồm mất ngủ và giấc mơ dữ dội), kích động hoặc lo lắng, buồn nôn, run và nhức đầu là những phản ứng được báo cáo phổ biến nhất. Nói chung, các triệu chứng này là nhẹ đến trung bình, tuy nhiên, ở một số bệnh nhân có thể nặng. Các triệu chứng thường xảy ra trong một vài ngày đầu ngưng điều trị, nhưng rất hiếm báo cáo xảy ra các triệu chứng này trên bệnh nhân bỏ lỡ một liều thuốc. Nhìn chung, những triệu chứng có thể tự giới hạn và thường hết trong vòng 2 tuần, mặc dù ở một số trường hợp có thể kéo dài (2-3 tháng hoặc lâu hơn). Do đó, khuyến cáo venlafaxin nên được giảm liều dần dần khi ngưng sử dụng trong khoảng thời gian vài tuần hoặc vài tháng, tùy theo nhu cầu của từng bệnh nhân.
  • Chứng ngồi/nằm không yên/Bồn chồn tâm lý: Sử dụng venlafaxin có liên quan đến phát triển chứng ngồi/nằm không yên, đặc trưng là bồn chồn, khó chịu và cần phải di chuyển đi kèm với việc không thể ngồi hoặc đứng yên. Điều này thường xảy ra trong vài tuần đầu điều trị. Bệnh nhân phát triển các triệu chứng này, tăng liều có thể gây hại.
  • Khô miệng: Khô miệng được báo cáo trên 10% bệnh nhân điều trị bằng venlafaxin. Điều này gây tăng nguy cơ sâu răng và bệnh nhân nên được thông báo về tầm quan trọng của vệ sinh răng miệng.
  • Tiểu đường: Bệnh nhân tiểu đường, điều trị bằng SSRI hay venlafaxin có thể làm thay đổi kiểm soát đường huyết. Insulin và/hoặc thuốc điều trị đái tháo đường đường uống có thể cần phải điều chỉnh.

Tương tác trong phòng xét nghiệm: Các xét nghiệm sàng lọc miễn dịch nước tiểu dương tính giả cho phencyclidine (PCP) và amphetamine đã được báo cáo trên bệnh nhân dùng venlafaxin. Điều này là do thiếu tính đặc hiệu của xét nghiệm sàng lọc. Kết quả dương tính giả có thể được dự kiến trong vài ngày sau khi ngừng điều trị bằng venlafaxin. Xét nghiệm xác nhận, chẳng hạn như sắc ký khí khối phổ sẽ phân biệt venlafaxin với PCP và amphetamine.

- Thai kỳ và cho con bú

Phụ nữ mang thai:

  • Không có đủ dữ liệu sử dụng cho venlafaxin cho phụ nữ mang thai. Nghiên cứu trên động vật cho thấy có độc tính sinh sản. Khả năng nguy cơ cho con người là chưa biết. Venlafaxin chỉ được dùng cho phụ nữ có thai khi lợi ích lớn hơn nguy cơ có thể xảy ra.
  • Giảm khả năng sinh sản đã được quan sát trên chuột cái và đực khi tiếp xúc với ODV.
  • Sự tiếp xúc này là khoảng 1 đến 2 lần so với liều venlafaxin trên người 375mg/ngày. Sự liên quan đến con người từ phát hiện này là chưa được biết. Cũng giống như thuốc ức chế tái hấp thu serotonin (SSRIs/SNRIs), triệu chứng ngưng dùng thuốc có thể xảy ra trên trẻ sơ sinh nếu venlafaxin được dùng đến khi hay ngay trước khi sinh. Một số trẻ sơ sinh tiếp xúc với venlafaxin vào giai đoạn cuối thai kỳ có phát triển biến chứng cần cho ăn bằng ống, hỗ trợ hô hấp hay nhập viện kéo dài. Những biến chứng này có thể phát sinh ngay sau khi sinh.
  • Dữ liệu dịch tễ học cho thấy rằng sử dụng SSRIs trên phụ nữ mang thai, đặc biệt trong giai đoạn cuối thai kỳ, có thể tăng nguy cơ tăng huyết áp phổi kéo dài ở trẻ sơ sinh (PPHN). Mặc dù không có nghiên cứu nào điều tra về sự liên quan của PPHN với điều trị bằng SNRI, nguy cơ tiềm ẩn này không thể loại trừ khi dùng Venlift do cơ chế hoạt động liên quan (ức chế tái hấp thu serotonin).
  • Các triệu chứng sau đây có thể được quan sát khi mẹ dùng SSRI/SNRI trong giai đoạn cuối thai kỳ: khó chịu, run rẩy, hạ huyết áp, khóc dai dẳng và khó bú hoặc ngủ.
  • Những triệu chứng này có thể là do tác dụng serotonergic hoặc triệu chứng tiếp xúc. Trong hầu hết các trường hợp, những biến chứng được quan sát ngay khi hay sau khi sinh 24 giờ.

Phụ nữ cho con bú: 

  • Venlafaxin và chất chuyển hóa của nó, O-desmethylvenlafaxin được bài tiết qua sữa. Những báo cáo sau khi thuốc lưu hành trên thị trường trên những trẻ em bú mẹ có biểu hiện khóc, khó chịu và giấc ngủ bất thường. Các triệu chứng phù hợp với triệu chứng ngưng dùng thuốc venlafaxin cũng được báo cáo sau khi ngưng bú mẹ.
  • Nguy cơ trên trẻ em bú mẹ là không thể loại trừ. Do đó, quyết định tiếp tục/ngưng bú mẹ hoặc tiếp tục/ngưng điều trị với Venlift cần được đưa ra, cân nhắc lợi ích giữa việc tiếp tục cho con bú đối với trẻ và lợi ích dùng thuốc đối với mẹ.

- Khả năng lái xe và vận hành máy móc

Bất kỳ sản phẩm thuốc thần kinh nào cũng có thể làm giảm khả năng tỉnh táo, suy nghĩ hay kỹ năng vận động. Do đó, bệnh nhân dùng venlafaxin cần thận trọng khi lái xe và vận hành máy móc.

- Tương tác thuốc

Ức chế monoamin oxidase (MAOI): 

Không dùng đồng thời venlafaxin với các thuốc ức chế MAO không chọn lọc và không hồi phục.

Ức chế MAOI không chọn lọc và không hồi phục: Không dùng đồng thời venlafaxin với các thuốc ức chế MAO không chọn lọc và không hồi phục. Phải bắt đầu dùng venlafaxin ít nhất 14 ngày sau khi ngưng điều trị bằng thuốc ức chế MAO không chọn lọc và không hồi phục. Ngưng sử dụng venlafaxin ít nhất 7 ngày trước khi bắt đầu điều trị bằng thuốc ức chế MAO không chọn lọc, không hồi phục.

Thuốc ức chế MAO chọn lọc, có hồi phục (Moclobemide): Do nguy cơ gây hội chứng serotonin, không khuyến cáo dùng đồng thời venlafaxin và thuốc ức chế MAO chọn lọc, có hồi phục như moclobemide. Sau khi điều trị bằng thuốc ức chế MAO có hồi phục, có thể ngưng thuốc ngắn hơn 14 ngày trước khi bắt đầu sử dụng venlafaxin. Khuyến cáo ngưng sử dụng venlafaxin ít nhất 7 ngày trước khi bắt đầu điều trị bằng thuốc ức chế MAO có hồi phục.

Thuốc ức chế MAO không chọn lọc, có hồi phục (Linezolid): Kháng sinh linezolid là thuốc ức chế MAO không chọn lọc, có hồi phục yếu và không nên dùng cho bệnh nhân đang điều trị bằng venlafaxin. Tác dụng phụ nghiêm trọng đã được báo cáo trên bệnh nhân vừa ngưng điều trị bằng MAOI và bắt đầu điều trị bằng venlafaxin, hay vừa ngưng điều trị bằng venlafaxin và bắt đầu điều trị bằng MAOI. Những tác dụng phụ này bao gồm run, nhược cơ, toát mồ hôi, nôn, buồn nôn, đỏ bừng, chóng mặt và tăng thân nhiệt với các hội chứng thần kinh ác tính, co giật và tử vong.

Hội chứng serotonin: Cũng giống như các thuốc serotonergic khác, hội chứng serotonin, một tình trạng có khả năng đe dọa tính mạng, có thể xảy ra khi điều trị bằng venlafaxin. Đặc biệt khi dùng đồng thời với các thuốc khác có ảnh hưởng đến hệ dẫn truyền thần kinh serotonergic (bao gồm triptan, SSRIs, SNRIs, lithium, sibutramine, St. John's Wort (Hypericum perforatum), fentanyl và các chất tương tự nó, tramadol, dextromethorphan, tapentadol, pethidine, methadone và pentazocine). Hoặc với các thuốc làm giảm chuyển hóa serotonin (như MAOIs như xanh methylene), hay với tiền chất serotonin (như bổ sung tryptophan) hay với thuốc chống loạn thần hoặc thuốc đối kháng dopamine. Nếu dùng đồng thời venlafaxin với một thuốc SSRI, một thuốc SNRI, hay một thuốc chủ vận thụ thể serotonin (triptan) được đảm bảo lâm sàng, cần giám sát cẩn thận bệnh nhân, đặc biệt trong khi bắt đầu điều trị và tăng liều. Không khuyến cáo dùng đồng thời venlafaxin và tiền chất serotonin (như bổ sung tryptophan).

Các thuốc CNS: Nguy cơ sử dụng đồng thời venlafaxin với các thuốc tác động lên hệ thần kinh trung ương (CNS) khác chưa được đánh giá hệ thống. Do đó, cần thận trọng khi dùng đồng thời venlafaxin và các thuốc CNS.

Ethanol: Venlafaxin đã được chứng minh không làm tăng sự giảm kỹ năng lái xe và tinh thần do ethanol. Tuy nhiên, cũng như các thuốc CNS khác, bệnh nhân nên tránh dùng rượu.

Thuốc làm kéo dài khoảng QT: Nguy cơ làm khoảng QTc kéo dài và/hoặc rối loạn nhịp thất (như xoắn đỉnh) tăng khi dùng đồng thời với thuốc kéo dài khoảng QTc. Nên tránh dùng đồng thời các thuốc này.

Các nhóm thuốc liên quan bao gồm:

  • Thuốc chống loạn nhịp nhóm Ia và III (như quinidine, amiodarone, sotalol, dofetilide).
  • Một số thuốc chống loạn thần (như thioridazine).
  • Một số macrolide (như erythromycin).
  • Một số thuốc kháng histamine.
  • Một số thuốc kháng sinh nhóm quinolone (như moxifloxacin).

Danh sách trên đây không đầy đủ, cũng nên tránh các thuốc khác đã biết làm tăng khoảng QT.

Tác dụng của các thuốc khác lên Venlafaxin 

Ketoconazole (ức chế CYP3A4): Nghiên cứu dược động học với ketoconazole trên người chuyển hóa mạnh (EM) hay chuyển hóa yếu (PM) CYP2D6 cho thấy tăng AUC của venlafaxin (70% và 21% trên CYP2D6 PM và EM tương ứng) và O-desmethylvenlafaxin (33% và 23% trên CYP2D6 PM và EM tương ứng) sau khi uống ketoconazole. Dùng đồng thời các chất ức chế CYP3A4 (như atazanavir, clarithromycin, indinavir, itraconazole, voriconazole, posaconazole, ketoconazole, nelfinavir, ritonavir, saquinavir, telithromycin) và venlafaxin có thể làm tăng nồng độ venlafaxin và O-desmethylvenlafaxin. Do đó, cần thận trọng khi dùng đồng thời thuốc ức chế CYP3A4 và venlafaxin.

Tác dụng của Venlafaxin lên các thuốc khác 

  • Thuốc chuyển hóa bằng cytochrome P450: Nghiên cứu in vivo cho thấy venlafaxin ức chế yếu CYP2D6 và không ức chế CYP3A4 (alprazolam và carbamazepine), CYP1A2 (caffeine), CYP2C9 (tolbutamide) hay CYP2C19 (diazepam) trên in vivo.
  • Lithium: Hội chứng serotonin có thể xảy ra khi dùng đồng thời venlafaxin và lithium.
  • Diazepam: Venlafaxin không ảnh hưởng đến dược động học và dược lực học của diazepam và chất chuyển hóa của nó, desmethyldiazepam. Diazepam không ảnh hưởng đến dược động học của venlafaxin và O-desmethylvenlafaxin. Chưa biết liệu có tương tác dược động học và/hoặc dược lực học với các benzodiazepin khác.
  • Imipramine: Venlafaxin không ảnh hưởng đến dược động học của imipramine và 2-OH-imipramine. Có sự tăng phụ thuộc liều AUC của 2-OH-desipramine lên 2,5 đến 4,5 lần khi dùng venlafaxin 75mg đến 150mg một lần mỗi ngày. Imipramine không ảnh hưởng đến dược động học của venlafaxin và O-desmethylvenlafaxin. Tương tác có ý nghĩa lâm sàng chưa được biết. Thận trọng khi dùng đồng thời venlafaxin và imipramine.
  • Haloperidol: Nghiên cứu dược động học với haloperidol cho thấy giảm 42% độ thanh thải toàn phần, tăng 70% AUC và tăng 88% Cmax, nhưng không làm thay đổi thời gian bán thải haloperidol. Nên cân nhắc dùng đồng thời haloperidol và venlafaxin. Tương tác có ý nghĩa lâm sàng là chưa được biết.
  • Risperidone: Venlafaxin làm tăng AUC risperidone 50%, nhưng không làm thay đổi dược động học có ý nghĩa lâm sàng của toàn bộ dạng hoạt tính (risperidone với 9-hydroxyrisperidone). Tương tác có ý nghĩa lâm sàng chưa được biết.
  • Metoprolol: Sử dụng đồng thời venlafaxin và metoprolol trên người tình nguyện khỏe mạnh trong nghiên cứu tương tác dược động học cho cả hai thuốc cho thấy tăng nồng độ trong huyết tương của metoprolol khoảng 30-40% và không làm tăng nồng độ trong huyết tương của các chất chuyển hóa, α-hydroxymetoprolol. Sự liên quan lâm sàng này trên bệnh nhân tăng huyết áp chưa rõ. Metoprolol không làm thay đổi dược động học của venlafaxin và chất chuyển hóa của nó, O-desmethylvenlafaxin. Cần thận trọng khi dùng đồng thời venlafaxin và metoprolol.
  • Indinavir: Một nghiên cứu dược động học với indinavir cho thấy AUC indinavir giảm 28%, Cmax indinavir giảm 36%. Indinavir không ảnh hưởng đến dược động học của venlafaxin và O-desmethylvenlafaxin. Tương tác có ý nghĩa lâm sàng chưa rõ.
  • Thuốc tránh thai đường uống: Sau khi lưu hành trên thị trường, mang thai ngoài ý muốn đã được báo cáo trên bệnh nhân dùng thuốc tránh thai đường uống và venlafaxin. Không có bằng chứng rõ ràng cho thấy việc mang thai này là kết quả của tương tác với venlafaxin. Chưa tiến hành nghiên cứu tương tác với thuốc tránh thai bằng nội tiết tố.

7. Dược lý

- Dược lực học (Tác động của thuốc lên cơ thể)

  • Cơ chế tác dụng chống trầm cảm của venlafaxin trên người được cho là có liên quan tới khả năng tác dụng trên hoạt động dẫn truyền thần kinh ở hệ thần kinh trung ương. Các nghiên cứu tiền lâm sàng đã chỉ ra rằng venlafaxin và chất chuyển hóa hoạt động của nó, O-desmethylvenlafaxin (ODV), là các chất ức chế mạnh tái hấp thu serotonin và norepinephrine, đồng thời ức chế yếu tái hấp thu dopamin. Venlafaxin và chất chuyển hóa hoạt động của nó làm giảm đáp ứng alpha-adrenergic ở cả liều cấp tính (liều đơn) và liều mạn tính. Venlafaxin và ODV rất giống nhau về tác dụng trên tái hấp thu chất dẫn truyền thần kinh và thụ thể liên kết.
  • Venlafaxin hầu như không có ái lực đối với các thụ thể muscarinic, cholinergic, H1-histaminergic hoặc alpha-adrenergic in vitro. Tác dụng dược lý tại các thụ thể này được cho là có liên quan đến các tác dụng khác như kháng cholinergic, an thần và các tác dụng trên tim mạch đã thấy ở các thuốc chống trầm cảm khác.
  • Venlafaxin không có tác dụng ức chế monoamine oxidase (IMAO).
  • Nghiên cứu in vitro cho thấy venlafaxin hầu như không có ái lực với các thụ thể nhạy cảm với benzodiazepin hoặc thuốc phiện.

- Dược động học (Tác động của cơ thể với thuốc)

Venlafaxin chuyển hóa rộng rãi và chủ yếu thành chất chuyển hóa còn hoạt tính, O-desmethylvenlafaxin (ODV). Thời gian bán thải trung bình trong huyết tương của venlafaxin và ODV lần lượt là 5 ± 2 và 11 ± 2 giờ. Nồng độ ở trạng thái cân bằng của venlafaxin và ODV đạt được sau 3 ngày khi điều trị đa liều. Venlafaxin và ODV cho thấy động học tuyến tính trong khoảng liều từ 75 mg đến 450 mg/ngày.

  • Hấp thu: Ít nhất 92% venlafaxin được hấp thu sau khi uống liều đơn dạng venlafaxin giải phóng ngay lập tức. Sinh khả dụng tuyệt đối là 40% đến 45% do chuyển hóa tiền hệ thống. Sau khi uống venlafaxin dạng giải phóng ngay lập tức, nồng độ đỉnh trong huyết tương của venlafaxin và ODV đạt được sau 2 và 3 giờ. Sau khi uống venlafaxin dạng giải phóng kéo dài, nồng độ đỉnh trong huyết tương của venlafaxin và ODV đạt được sau 5,5 giờ và 9 giờ. Khi liều hàng ngày của venlafaxin bằng nhau giữa dạng giải phóng ngay lập tức và dạng giải phóng kéo dài, dạng giải phóng kéo dài cho thấy tốc độ hấp thu chậm hơn, nhưng cùng mức độ hấp thu so với dạng giải phóng ngay lập tức. Thức ăn không làm ảnh hưởng đến sinh khả dụng của venlafaxin và ODV.
  • Phân bố: Venlafaxin và ODV liên kết tối thiểu (27% và 30%) với protein huyết tương người ở nồng độ điều trị. Thể tích phân bố của venlafaxin ở trạng thái ổn định là 4,4 ± 1,6 L/kg sau khi tiêm tĩnh mạch.
  • Chuyển hóa: Venlafaxin trải qua quá trình chuyển hóa ở gan. Các nghiên cứu in vitro và in vivo cho thấy venlafaxin được chuyển hóa chủ yếu thành chất chuyển hóa hoạt tính chính, ODV, bởi CYP2D6. Các nghiên cứu in vitro và in vivo chỉ ra rằng venlafaxin được chuyển hóa ít thành chất chuyển hóa ít hoạt tính, N-desmethylvenlafaxin, bởi CYP3A4. Các nghiên cứu in vitro và in vivo cũng cho thấy venlafaxin ức chế yếu CYP2D6. Venlafaxin không ức chế CYP1A2, CYP2C9 hay CYP3A4.
  • Thải trừ: Venlafaxin và các chất chuyển hóa của nó được bài tiết chủ yếu qua thận. Khoảng 87% liều venlafaxin được phục hồi trong nước tiểu trong 48 giờ dưới dạng venlafaxin không đổi (5%), ODV dạng không liên hợp (29%), ODV dạng liên hợp (26%) và các chất chuyển hóa không còn hoạt tính (27%). Độ thanh thải ở trạng thái ổn định của venlafaxin và ODV lần lượt là 1,3 ± 0,6 L/h/kg và 0,4 ± 0,2 L/h/kg.

Đối tượng đặc biệt

  • Tuổi tác và giới tính: Tuổi tác và giới tính không ảnh hưởng đáng kể đến dược động học của venlafaxin và ODV.
  • Chuyển hóa mạnh/yếu qua CYP2D6: Nồng độ huyết tương của venlafaxin ở những người chuyển hóa yếu qua CYP2D6 cao hơn so với những người chuyển hóa mạnh. Do diện tích dưới đường cong AUC toàn phần của venlafaxin và O-desmethylvenlafaxin (ODV) tương tự ở cả hai đối tượng này, nên không cần phải chỉnh liều cho cả hai nhóm.
  • Suy gan: Ở bệnh nhân Child-Pugh A (suy gan nhẹ) và Child-Pugh B (suy gan trung bình), thời gian bán thải của venlafaxin và ODV được kéo dài so với bệnh nhân bình thường. Độ thanh thải của venlafaxin và ODV cũng đều giảm. Đã ghi nhận những thay đổi đáng kể. Tuy nhiên, dữ liệu về bệnh nhân suy gan nặng còn hạn chế.
  • Suy thận: Ở bệnh nhân lọc máu, thời gian bán thải của venlafaxin kéo dài khoảng 180% và độ thanh thải giảm khoảng 57% so với người bình thường; trong khi đó, thời gian bán thải của ODV kéo dài 142% và độ thanh thải giảm khoảng 56%. Cần điều chỉnh liều cho bệnh nhân suy thận nặng và bệnh nhân cần lọc máu.

8. Thông tin thêm

- Đặc điểm

  • Dạng bào chế: Viên nang cứng.
  • Mô tả: Viên nang gelatin cứng, màu vàng/vàng mờ, có logo Torrent (biểu tượng hình ô vuông) trên nắp và được in chữ “Venlift OD” trên thân vỏ nang, bên trong chứa các hạt pellet trắng đến trắng ngà.

- Bảo quản

Dưới 30°C.

- Quy cách đóng gói

Hộp 3 vỉ x 10 viên.

- Hạn dùng

36 tháng kể từ ngày sản xuất.

- Nhà sản xuất

Torrent Pharmaceuticals Ltd.

Venlift OD 75 điều trị trầm cảm và rối loạn lo âu lan tỏa (3 vỉ x 10 viên)

Còn hàng

Mã: 108053

Thuốc này chỉ dùng theo đơn của bác sĩ. Vui lòng sao chép thông tin sản phẩm và gửi cho dược sĩ qua Zalo để được tư vấn

Sao chép thông tin sản phẩm